Liên kết website


Thăm dò ý kiến

Đợt lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang:
  • Phát huy được trí tuệ và quyền làm chủ của nhân dân.
  • Là cơ chế thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân.
  • Là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Trao Đổi TT Với Cử Tri

Từ điển trực tuyến

Tra từ:
Từ điển:

Hình ảnh hoạt động

Hộp Mail

Trang chủThông tin KT-XH

10 Luật quan trọng có hiệu lực từ 01/01/2018

Đăng ngày: 18/12/2017
 ​Từ ngày 01/01/2018, các luật có hiệu lực là Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015; Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016; Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017; Luật Quản lý ngoại thương 2017; Luật Du lịch 2017; Luật Trợ giúp pháp lý 2017; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017
 

​    1. Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): 

​    Bộ Luật gồm 03 Phần, 26 chương và 426 Điều quy định về tội phạm và hình phạt. Trong đó, xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.  Ngoài quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, Bộ Luật đã bổ sung nội dung về cơ sở trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại - một chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được Bộ luật hình sự quy định. Đồng thời, bãi bỏ 11 tội danh và bổ sung 34 tội danh (trong đó có 15 tội danh mới trong các lĩnh vực kinh tế) nhằm bảo đảm phù hợp với tinh thần Hiến pháp 2013 và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt là các quy định trong các luật chuyên ngành phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. 

​    2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

​    Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm 09 Phần, 36 Chương và 510 Điều quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã xác định 5 giai đoạn trong tố tụng hình sự gồm: Khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử; thi hành án. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm nhằm khẳng định quyền bình đẳng của các bên (điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác) trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, yêu cầu và tranh luận trước Tòa án.

​    3. Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015: 

​    Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 gồm 10 Chương và 73 Điều quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Bên cạnh đó, Luật đã ghi nhận, tôn trọng, đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự. Trong đó, một nội dung đáng chú ý là nghiêm cấm các hành vi cản trở người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, trợ giúp pháp lý; quyền khiếu nại, tố cáo…; các hành vi cản trở người bào chữa, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện việc bào chữa, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

​    4. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015: 

​    Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 gồm 11 Chương và 73 Điều quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành tạm giữ, tạm giam; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành tạm giữ, tạm giam. Luật đã quy định đầy đủ, cụ thể về những quyền mà người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng và nghĩa vụ mà họ phải thực hiện trong khi bị tạm giữ, tạm giam. Đồng thời, bổ sung quy định về quy trình tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam và hồ sơ quản lý tạm giữ, tạm giam; chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

​    5. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016:

​    Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 gồm 9 Chương và 68 Điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Luật đã mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; xác định rõ địa vị pháp lý của tổ chức tôn giáo, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.

​    6. Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017: 

​    Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 gồm 4 Chương và 35 Điều quy định về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, tập trung hỗ trợ về tiếp cận tín dụng; thuế, kế toán; mặt bằng sản xuất; công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; mở rộng thị trường; thông tin, tư vấn và pháp lý; phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, tập trung 3 đối tượng doanh nghiệp, gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

​    7. Luật Quản lý ngoại thương 2017: 

​    Luật Quản lý ngoại thương 2017 gồm 8 Chương và 113 Điều quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương; giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương. Luật chủ yếu điều chỉnh công tác quản lý Nhà nước về ngoại thương; không điều chỉnh, can thiệp vào các hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau; chỉ điều chỉnh đối tượng là hàng hóa, không điều chỉnh đối tượng dịch vụ. Luật khẳng định quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân chỉ bị hạn chế nếu thuộc các trường hợp mà Luật quy định biện pháp cấm, tạm ngừng hoặc hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu. Riêng đối tượng là thương nhân là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài không có hiện diện ở Việt Nam, Luật quy định quyền, nghĩa vụ của các đối tượng này theo đúng cam kết trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 

​    8. Luật Du lịch 2017: 

​    Luật Du lịch 2017 gồm 9 Chương và 78 Điều quy định về tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch. Luật đã thể hiện được tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có sự phân công rõ ràng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, của từng ngành, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp du lịch, đưa tiêu chuẩn hướng dẫn viên du lịch đồng thời định hướng, tạo điều kiện thuận lợi và hành lang pháp lý thông thoáng để các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch phát triển.

​    9. Luật Trợ giúp pháp lý 2017: 

​    Luật Trợ giúp pháp lý 2017 gồm 8 Chương và 48 Điều quy định về người được trợ giúp pháp lý; tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; người thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạt động trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Luật đã quy định rõ về khái niệm trợ giúp pháp lý và khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong công tác trợ giúp pháp lý; bổ sung nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý; mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý; nâng cao chất lượng dịch vụ và chuyên nghiệp hóa hoạt động trợ giúp pháp lý thông qua việc chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; bổ sung các quy định về trình tự thực hiện trợ giúp pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp pháp lý.

​    10. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017: 

​    Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 gồm 10 Chương và 134 Điều quy định về quản lý nhà nước đối với tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng tài sản công; quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài sản công. Luật quy định 7 nhóm nguyên tắc để áp dụng thống nhất trong quản lý, sử dụng tài sản công. Trong đó, chú trọng tới việc giao quyền quản lý, quyền sử dụng hoặc các hình thức trao quyền khác cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác theo quy định, nhằm xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng gắn với trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý, sử dụng tài sản công. Ngoài các quy định chặt chẽ trong việc quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức (đặc biệt quy định rất chặt các điều kiện được sử dụng tài sản để sử dụng vào các mục đích có tính chất kinh doanh), Luật còn quy định việc quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp (Chương V). Theo đó, đối với tài sản do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và đã được tính thành phần vốn nhà nước trong đó, việc quản lý, sử dụng được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Luật cũng quy định rõ việc quản lý và khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên. Đồng thời, quy định việc xây dựng, vận hành, duy trì Hệ thống thông tin về tài sản công và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài sản công.

​    ​Tuấn Anh