Liên kết website


Specified argument was out of the range of valid values.

Trao Đổi TT Với Cử Tri

Từ điển trực tuyến

Tra từ:
Từ điển:

Hình ảnh hoạt động

Hộp Mail

Trang chủThông tin KT-XH

Kết quả thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn

Đăng ngày: 06/06/2018
​Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp vùng dân tộc thiểu số, miền núi trong những năm qua được tăng cường, củng cố cả về số lượng và chất lượng, nhất là giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục người dân tộc thiểu số.

​    Ngoài các chế độ, chính sách đối với nhà giáo nói chung, thì nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường chuyên biệt và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn còn được hưởng các chế độ, chính sách quy định  gồm có Nghị định số 61/2006-NĐ-CP về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; nghị định số 19/2013/NĐ-CP về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, ngườihưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

Thực hiện cách chính sách ưu đãi trên đã góp phần động viên, khuyến khích nhà giáo công tác lâu dài ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn gắn bó với địa bàn và hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các nghị định nói trên còn một số hạn chế, bất cấp như việc hướng dẫn địa bàn áp dụng còn chưa thống nhất, trùng lặp về đối tượng việc ban hành văn bản hướng dẫn còn do nhiều cơ quan thực hiện, có khó khăn trong công tác thanh tra, kiểm tra. Trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng dân tộc năm 2016, Bộ Nội vụ đã tổ chức tổng kết việc thực hiện các nghị định nên trên, trên cơ sở đó xây dựng dựthảo nghị định của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trong đó bao gồm chế độ, chính sách đối với nhà giáo, cánbộ quản lý giáo dục.

Về chính sách cử tuyển, từ năm1990 đến nay công tác cử tuyển thu được những kết quả tương đối tốt, đã có hàng chục ngàn học sinh dân tộc được đào tạo cơ bản, đạt trình độ đại học, cao đẳng; bổ sung đội ngũ trí thức, cán bộ có trỉnh độ cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2006-2011 đã đào tạo được 12.812 học sinh (trong đó có 10.560 người có trình độ đại học và 2.252 người có trình độ cao đẳng. Giai đoạn này hầu hết số học sinh cử tuyển sau khi tốt nghiệp đều được bố trí việc làm. Giai đoạn 2011-2017 có 8.681 học sinh cử tuyển. Trong đó, số lượng sinh viên đã tốt nghiệp là 4.517 người; còn lại đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp.

Về chính sách dạy và học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số cho dân tộc thiểu số được thựchiện theo nghị định số 82/2010/NĐ-CP của chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và các trung tâm giáo dục thường xuyên trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất đinh,góp phần gìn giữ, bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, đảm bảo thực hiện quyền của các dân tộc theo Hiến pháp quy định. Hiện nay, cả nước đang triển khai dạy và học 06 thứ tiếng dân tộc thiểu số gồm HMông,Chăm, Khơ Me,Gia Rai, Ba Na, Ê Đê ở 23 tỉnh, thành trong cả nước với quy mô 715 trường, 4.812 lớp,113.231 học sinh.

Kim Chung​