Liên kết website


Specified argument was out of the range of valid values.

Trao Đổi TT Với Cử Tri

Từ điển trực tuyến

Tra từ:
Từ điển:

Hình ảnh hoạt động

Hộp Mail

Trang chủThông tin KT-XH

Kết quả thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp, nhà công vụ cho giáo viên vùng Dân tộc thiểu số, miền núi

Đăng ngày: 06/06/2018
​Tổng kinh phí thực hiện 3 giai đoạn 2008-2012, 2014-2015 và 2017-2020 là 39.528,136 tỉ đồng, trong đó: Vốn trái phiếu Chính phủ 23.245,619 tỉ đồng; ngân sách địa phương và xã hội hóa 16.282,517 tỷ đồng.

​    Theo báo cáo của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, tổng số phòng học đã và đang được đầu tư xây dựng là 104.604 phòng. Cụ thể trong giai đoạn 2008-2012 đã đầu tư xây dựng 92.191 phòng học, đạt tỉ lệ 65% so với mục tiêu đề án. Trong đó mầm non 25.794 phòng, tiểu học 39.480 phòng, trung học cơ sở đạt 21.899 phòng và trung học phổ thông đạt 5.018 phòng. Giai đoạn 2014-2015 đã đầutư xay dựng 1.333 phòng học mầm non, đạt 84,24% mục tiêu đề án; Giai đoạn 2017-2020 dự kiến đầu tư 10.155 phòng học mầm non, tiểu học; năm 2017 Thủ tướng Chính phủ đã giao vốn các địa phương thực hiện với tổng số vốn là 3.256,06 tỉ đồng để xây dựng khoảng 7.416 phòng học.

Ngoài các chương trình, đề án trên, chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng, trường lớp học và các công trình phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động giảng dạy,học tập trong các cơ sở giáo dục vùng DTTS, MN vùng đặc biệt khó khăn còn được thực hiện qua các chương trình, dự án ODA vớitổngkinh phí các dự án 461,9 triệu USD, trong đó vốn viện trợ 31,3 triệu USD,vốn vay 374,8 triệu USD, vốn đốiứng 55,7 triệu USD. Kết quả đã xây mới 2.006 phòng học, 1.289 nhà vệ sinh; 262 phòng học đa năng của baạc tiểu học; 820 phòng học; 1.026 phòng bán trú các trường trung học cơ sở thuộc dự án phát triển giáo dục trung học vùng khó khăn nhất.

Trong những năm qua, nhờ có các chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước vùng với sự cố gắng nỗ lực của các địa phương trong đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số,mầm non  nên quy mô trường, lớp các ngành học, cấp học đều tăng; tăng tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố, giảm tỉ lệ phòng học tạm, từng bước đáp ưng nhu cầu học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. So với năm học 2010-2011, năm học 20166-2017, vùng dân tộc thiểu số, miền núi có 5.766 trường mầm non, tăng 483 trường (7,6%); 7.113 trường tiểu học, tăng 713 trường (11,14%); 4.995 trường trung học cơ sở, tăng 429 trường (9,4%); 1.195 trường trung học phổ thông; tăng 71 trường (6,3%); 314 trường phổ thông dân tộc nội trú, tăng 22 trường; 1.013 trường phổ thông dân tộc bán trú, tăng 886 trường. Số phòng học kiên cố của mầm non tăng 89%, tiểu học tăng 24%; trung học cơ sở tăng 16% và trung học phổ thông tăng 17%. Riêng bậc trung học phổ thông đã khong còn phòng học nhờ, mượn; phòng học tạm chỉ còn chiếm tỉ lệ rất nhỏ là 0,5%.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, thì chương trình mục tiêu đối với giáo dục vùng khó khăn, vùng DTTS, MN; Chương trình kiên cố hóa rtường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên chưa hoàn thành đúng tiến độ và thời gian; mótố mục tiêu đề án chưa hoàn thành, nhiều công trình chưa được đầu tư hoặc đầu tư dở dang. Theo mục tiêu đề án phê duyệt sẽ đầu tư xây mới 48 trường phổ thông dân tộc nội trú, tuy nhiên trong điai đoạn này mới hoàn thành được 10 trường, còn 22 trường đang xây dựng dở dang và 16 trường chưa được đầu tư xây mới, Còn 5.032 hạng mục công trình của 223 trường phổ thông dân tộc nội trú chưa được đầu tư xây dựng. Chương trình kiên cố hóa trường, lớp thực hiện từ năm 2008 đến năm qua 3 giai đoạn bố trí vốn còn thiếu vẫn chưa xóa bỏ toàn bộ các phòng học tranh, tre nứa lá tại các địa bàn khó khăn. Các công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên đã và đang tiếp tục được triển khai thực hiện giai đoạn 2016-2020.

Kim Chung​