Đồng chí Hà Huy Tập - Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm 1936 – 1938, là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản. Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của đồng chí (24/4/1906 - 24/4/2026), chúng ta cùng ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam.
Đồng chí Hà Huy Tập (1906 - 1941)
Khái lược tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng
Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngoa nay là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ là cụ Hà Huy Tương, một trí thức nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học, bốc thuốc cứu người. Thuở nhỏ Hà Huy Tập được thân phụ dạy học chữ Hán tại nhà, sau đó đi học và đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp trường tiểu học ở tổng Thổ Ngọa nhưng do gia cảnh khó khăn nên không được học tiếp.
Năm 1917, nhờ có người giúp đỡ, Hà Huy Tập được ra tỉnh lỵ Hà Tĩnh học Trường tiểu học Pháp - Việt. Năm 1919, Hà Huy Tập đỗ thủ khoa kỳ thi chọn học sinh xuất sắc do nhà trường tổ chức, được cấp học bổng, rồi vào học Trường Quốc học Huế. Năm 1923, tốt nghiệp Trường Quốc học Huế hạng ưu nhưng vì không có điều kiện học lên nữa nên đồng chí vào làm giáo viên Trường tiểu học Pháp - Việt tại Nha Trang (Khánh Hòa).
Trong thời gian này, đồng chí Hà Huy Tập tiếp xúc và đọc nhiều tài liệu, hiểu thêm về tội ác của thực dân Pháp, cuộc sống bần hàn của nhân dân lao động ở Việt Nam và Đông Dương. Trong Tiểu sử tự thuật trên Thẻ sinh viên, đồng chí Hà Huy Tập viết: “Năm 1923… tôi đã có tư tưởng chống bọn bảo hoàng và bọn thực dân, bởi tôi cảm thấy căm thù sự chuyên chế, bóc lột của chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến… Cuộc đời cách mạng của tôi chỉ bắt đầu từ năm 1925. Năm đó, tôi được tiếp xúc với các cựu chính trị phạm”, nên sớm có tư tưởng yêu nước.
Từ người trí thức đến lãnh tụ cách mạng
Tháng 8/1926, thầy giáo Hà Huy Tập chuyển về dạy học tại Trường Cao Xuân Dục ở Vinh, Nghệ An, tích cực hoạt động trong Hội Phục Việt, tích cực tuyên truyền tư tưởng chống chuyên chế và chống thực dân Pháp trong học sinh và tầng lớp lao động. Tiểu sử tự thuật viết: “Tháng 8/1926, tôi được chuyển về Vinh... Ở Vinh, tôi được giới thiệu với một nhóm cộng sản. Những ngày sống tại thành phố này, tôi đã tham gia vào việc bí mật gửi những sinh viên sang Trung Quốc dự các lớp huấn luyện ở Quảng Châu, nơi mà những người Việt Nam xuất dương đã thiết lập ở đó một tổ chức cộng sản (chỉ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tháng 6/1925) và tổ chức này đã có những chi bộ ở trong nước”
- Năm 1928: Ông cùng một số đồng chí được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất Tân Viêt Cách mạng Đảng với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
- Giai đoạn 1929 - 1932: Ông được cử đi học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva (Liên Xô cũ)..
- Giai đoạn 1933 - 1935: Ông trở về Trung Quốc, tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương; triển khai công tác chuẩn bị và là người tổ chức Đại hội lần thứ I của Đảng từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935 tại Ma Cao, Trung Quốc.
Đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 26/7/1936), đồng chí Hà Huy Tập được phân công về nước tổ chức lại Ban Chấp hành Trung ương và khôi phục tổ chức Đàng. Từ tháng 7/2036 đến tháng 03/2038, Đồng chí hoạt động cách mạng với cương vị Tổng Bí thư của Đảng. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 3/1938, Đồng chí thôi giữ chức Tổng Bí thư, nhưng vẫn tham gia Ban Thường vụ Trung ương Đảng.
Tháng 3/1940, Đồng chí bị địch bắt lại và giam ở Khám Lớn, Sài Gòn. Ngày 25/3/1941, Tòa án quân sự Sài Gòn kết án tử hinh đối với đồng chí Hà Huy Tập. Ngày 28/8/1941, tại Hóc Môn, Gia Định, thực dân Pháp đã xử bắn đồng chí Hà Huy Tập cùng một số lãnh đạo khác của Đảng.
Với 35 tuổi đời, 16 năm hoạt động cách mạng, trong đó gần 2 năm ở cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập đã hoàn thành xuất sắc nhiều trọng trách mà Đảng và Nhân dân giao phó trong gia đoạn lịch sử đầy thử thách và nhiều biến động phức tạp. Đồng chí là một tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cộng sản, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.
Nhà lãnh đạo tài năng trong giai đoạn khôi phục tổ chức
Sau cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931), thực dân Pháp khủng bố trắng, nhiều tổ chức đảng trong nước bị phá vỡ. Tháng 4/1933, đồng chí Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản cử về hoạt động nhằm khôi phục tổ chức Đảng. Tháng 3/1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập do đồng chí Lê Hồng Phong làm Thư ký, đồng chí Hà Huy Tập là Ủy viên, phụ trách tuyên truyền, cổ động kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Bônsơvích. Trong thời gian đồng chí Lê Hồng Phong đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, đồng chí Hà Huy Tập trở thành người đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, chủ trì chuẩn bị cho Đại hội lần thứ I của Đảng.
Từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935, Đại hội lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức. Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị do đồng chí Hà Huy Tập trình bày và nhiều văn kiện quan trọng khác của Đảng. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương và Ban Thường vụ do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư). Đồng chí Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản chỉ định là Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn, đánh dấu việc Đảng ta đã được khôi phục về tổ chức, các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở được lập lại.
Tháng 7/1936, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã phân công đồng chí Hà Huy Tập về nước để tổ chức Ban Trung ương và để khôi phục, liên lạc với các tổ chức của Đảng. Từ thời điểm này, Đồng chí giữ trọng trách Tổng Bí thư của Đảng.
Sau khi về nước, tháng 8/1936, đồng chí quyết định chuyển cơ quan lãnh đạo của Đảng từ nước ngoài về xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), tạo điều kiện cho Trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Tại đây, Đồng chí đã chủ trì nhiều Hội nghị Trung ương quan trọng (Hội nghị tháng 3/1937, tháng 9/1937, tháng 3/1938), đưa ra các quyết sách lớn như thống nhất các tổ chức Đảng, phát triển cơ sở Đảng, thành lập Mặt trận nhân dân thống nhất Đông Dương, sau đó là Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương, mở rộng lực lượng cách mạng, đưa phong trào đấu tranh dân chủ phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian ngắn, Đảng ta từ chỗ bị khủng bố trắng đã khôi phục hệ thống tổ chức và phát triển phong trào quần chúng rộng khắp.
Nhà lý luận sắc sảo, cây bút chiến đấu trên mặt trận tư tưởng
Đồng chí Hà Huy Tập là một nhà lý luận sắc sảo, là người sáng lập, Tổng biên tập của nhiều tờ báo, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng, đồng chí tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dâng hương tại phần mộ cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập
Trong thời gian học tập tại Mátxcơva, Đồng chí đã soạn thảo nhiều bài viết và công trình về lịch sử Đảng ta những năm đầu thời kỳ dựng Đảng: Lịch sử của Tân Việt Cách mệnh Đảng (1929), Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931). Các bài viết Thư gửi Ban Biên tập Tạp chí Bônsơvich (1932), Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương thống nhất (1933). Với năng lực và sự hiểu biết toàn diện, đồng chí đã hoàn thành cuốn Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương (1932), tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm đầu do Đảng lãnh đạo. Trong những năm 1931 - 1936, nhiều văn kiện quan trọng của Đảng do đồng chí Hà Huy Tập khởi thảo đã thể hiện những quan điểm đúng đắn về cách mạng Việt Nam.
Với nhiều bút danh khác nhau, đồng chí đã viết nhiều bài báo đăng trên các tờ Tranh đấu, Tiền phong… vạch trần bản chất phản động của các phần tử cơ hội, bảo vệ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng. Các tác phẩm như Vì một Mặt trận nhân dân Đông Dương, Vì sao cần ủng hộ Mặt trận bình dân bên Pháp đã góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng chiến lược, sách lược của Đảng trong thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939.
Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 26/7/1936 do đồng chí Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong chủ trì đã tập trung vào việc nghiên cứu quán triệt các nghị quyết mới của Quốc tế Cộng sản, vận dụng vào hoàn cảnh thực tế để điều chỉnh chiến lược, sách lược phù hợp với tình hình hiện tại. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương để đấu tranh đòi những quyền dân chủ sơ đẳng; quyết định thay đổi các hình thức tổ chức, phương pháp đấu tranh của quần chúng, từ tổ chức bí mật, đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu chuyển sang tổ chức và đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị, phong trào đòi dân chủ, dân sinh lan rộng khắp Đông Dương.
Tấm gương kiên trung, bất khuất, hy sinh trọn đời vì nước, vì dân
Từ một trí thức yêu nước, đi theo con đường cách mạng và trở thành Tổng Bí thư của Đảng khi mới 30 tuổi, đồng chí Hà Huy Tập đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược sắc bén và tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và dân tộc. Đồng chí đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng trong giai đoạn 1936 - 1939, góp phần làm bùng lên cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình, chống chiến tranh đế quốc ở Đông Dương.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đồng chí luôn phải đối mặt với với nhiều án tù của thực dân đế quốc, trong đó có án tử hình, thường xuyên bị kẻ thù rình rập, bao vây, khống chế cả về vật chất và tinh thần, thậm chí bị giam cầm, tra tấn dã man nhưng đồng chí Hà Huy Tập vẫn kiên trung, bất khuất, giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu của người cộng sản.
Học tập và phát huy tinh thần đồng chí Hà Huy Tập trong giai đoạn mới
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Hà Huy Tập là dịp để cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang nỗ lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đại hội XIV, tinh thần của đồng chí Hà Huy Tập là nguồn động lực to lớn để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng.
Đồng chí Hà Huy Tập đã đi xa, nhưng sự nghiệp hoạt động cách mạng vẻ vang và phẩm chất đạo đức cao quý của Người vẫn luôn sống mãi, soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau trên hành trình xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.