1. Cử tri xã Xuân Bắc phản ánh: Tiến độ thu hồi Dự án khu Liên hợp công - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Công ty Dofico chậm làm ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của Nhân dân thuộc dự án. Cử tri kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo xử lý dứt điểm các vấn đề tồn tại liên quan đến dự án và đẩy nhanh tiến độ thu hồi, bồi thường cho Nhân dân để người dân sớm ổn định cuộc sống.
Trả lời:
Tổng Công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện 04 dự án đầu tư hạ tầng thuộc Khu liên hợp công nông nghiệp Dofico gồm:
+ Phân khu chăn nuôi tập trung (vị trí 3A) tại xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc (cũ), diện tích 188,5 ha (Giấy chứng nhận đầu tư số 47141000295 cấp ngày 28/02/2011).
+ Phân khu trồng trọt - chăn nuôi tập trung (vị trí 3B) tại xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc (cũ), diện tích 538,8 ha (Giấy chứng nhận đầu tư số 47121000404 ngày 26/12/2013).
+ Phân khu trồng trọt và chế biến thực phẩm (vị trí 3C) tại xã Xuân Tâm, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc (cũ), diện tích 687,4 ha (Giấy chứng nhận đầu tư số 47121000407 ngày 24/01/2014).
+ Phân khu nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao Thọ Vực (vị trí 3D) tại xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc (cũ), diện tích 522 ha (Giấy chứng nhận đầu tư số 47121000407 ngày 28/01/2014).
+ Phân khu dịch vụ, thương mại, Logistics tại xã Lộ 25, huyện Thống Nhất (cũ), diện tích 250 ha (định hướng chuyển đổi quy hoạch).
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh về việc giữ nguyên phân khu 3A, chấm dứt hoạt động khu Phân khu 3B và 3C, giao Tổng công ty Dofico thu hồi và bàn giao lại Nhà nước để tổ chức lựa chọn lại nhà đầu tư theo quy định đối với Phân khu 3D, chuyển đổi quy hoạch Phân khu dịch vụ, thương mại, Logistics tại xã Lộ 25 đến tình hình triển khai thực hiện đến nay:
- Đối với Phân khu 3A là khu chăn nuôi trồng trọt tập trung khoảng 188ha đã hoàn thành. Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai tiếp tục đầu tư kinh doanh và chuyển đổi hoạt động theo loại hình Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Đối với Phân khu 3D (khoảng 522ha) giữ nguyên mục tiêu quy hoạch. Tổng Công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng toàn bộ diện tích phân khu và bàn giao lại cho tỉnh tổ chức lựa chọn nhà đầu tư triển khai dự án theo quy định. Thời gian bàn giao lại cho Nhà nước sau thời điểm Tổng công ty cổ phần hóa. Hiện nay, Tổng Công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai đã phối hợp với Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Xuân Lộc (cũ) thực hiện việc chi trả bồi thường, hỗ trợ và được bàn giao mặt bằng với diện tích 243,8 ha/tổng diện tích 522,49 ha, còn lại khoảng 278,69 ha chưa thực hiện bồi thường, hỗ trợ. Đối với phần diện tích 278,69 ha, Tỉnh đang xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc chấm dứt dự án Khu liên hiệp công nông nghiệp Dofico và giao các Sở, ban, ngành căn cứ quy định pháp luật xem xét việc chấm dứt, thu hồi dự án trên theo quy định.
- Đối với Phân khu trồng trọt - chăn nuôi (3B) và phân khu trồng trọt và chế biến thực phẩm (3C): Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính) đã có Văn bản số 2567/SKHĐT-KTĐN ngày 12/7/2018 thông báo chấm dứt hoạt động hai dự án phân khu 3B và 3C. Tổng Công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai đang thực hiện việc thanh lý dự án.
- Đối với Phân khu Thương mại dịch vụ Logistics huyện Thống Nhất chuyển đổi quy hoạch và chuyển sang chức năng khu công nghiệp (đã thực hiện chuyển đổi quy hoạch trong Quy hoạch tỉnh).
2. Cử tri xã Xuân Hòa kiến nghị: Các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai và khai thác cây trồng tại Làng Máng - Rừng phòng hộ Xuân Lộc.
Trả lời:
(1) Các vấn đề liên quan đến đất đai khu vực Làng Mán - Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc:
Lâm trường Xuân Lộc (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc) được thành lập theo Quyết định số 1232/QĐ-UBT ngày 24/12/1977 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, hoạt động theo cơ chế Lâm trường quốc doanh. Theo Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 16/3/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm trường Xuân Lộc được chuyển thành Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, được Nhà nước đảm bảo kinh phí chi thường xuyên. Từ năm 2018 đến nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc chuyển sang loại hình đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên, tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và sản xuất kinh doanh dịch vụ nông lâm nghiệp.
Vào những năm 1985, 1986, một số hộ dân tộc Mán đến khai phá rừng làm rẫy ở khu vực phân trường 5, sát hồ Núi Le (nay là khu vực tiểu khu 206, phân trường Núi Le). Do bị lực lượng bảo vệ rừng của Lâm trường kiểm tra ngăn chặn, họ đã chuyển đến khu vực rừng tự nhiên thuộc tiểu khu I (nay là tiểu khu 204, 205), phân trường Trản Táo để phát rừng làm rẫy. Lực lượng bảo vệ của Lâm trường và phân trường Trản Táo đã tổ chức kiểm tra ngăn chặn, giải tỏa nhưng các hộ dân vẫn tiếp tục lén lút khai phá rừng làm rẫy theo kiểu da beo.
Để ngăn chặn tình trạng phá rừng, phục hồi diện tích rừng đã bị phá, ổn định đời sống và sản xuất cho bà con, thực hiện Quyết định số 1571/QĐ-UBT ngày 04/11/1986 của UBND tỉnh Đồng Nai "Quyết định ban hành quy định tạm thời cho các đơn vị quốc doanh lâm nghiệp được tổ chức các hộ gia đình CNV và các đơn vị tập thể nhận đất trồng rừng, nhận rừng để chăm sóc bảo vệ cho đến khi thu hoạch" và Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện Xuân Lộc (cũ) lần thứ IV, năm 1987, Lâm trường Xuân Lộc đã tổ chức cho các hộ dân nói trên hợp đồng trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp (trồng cây Tiêu, Cà phê dưới tán rừng cây Sao, Dầu) theo hình thức hợp đồng tập thể. Ông Đặng Đức Quang, đại diện cho các hộ dân tộc Mán (Dao) đứng tên hợp đồng. Cùng thời điểm đó, ông Nguyễn Văn Dũng (Bảy Võ) ngụ tại Xuân Tâm cũ, đại diện các hộ dân tại chỗ và một số người dân tộc Hoa cũng vào xin nhận hợp đồng với Lâm trường tại khu vực Bưng Kè, tiếp giáp với các hộ dân tộc Mán, từ đó hình thành nên khu vực làng Mán, làng Tàu (còn gọi là khu Bưng Kè) như ngày nay.
Tổng diện tích Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc hiện nay đang quản lý là 10.027,00 ha thuộc địa bàn hành chính các xã: Xuân Thành, Xuân Lộc và Xuân Hòa. Toàn bộ diện tích đất sản xuất lâm nghiệp của Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2010 và được cấp đổi vào năm 2014. Đối với diện tích khu vực làng Mán nêu trên do Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc đang quản lý và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc các hộ dân kiến nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu vực này là không có cơ sở để giải quyết.
(2) Quy định về khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ là rừng trồng như sau:
a) Về đối tượng khai thác (quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật Lâm nghiệp năm 2017) như sau:
- Được khai thác cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định;
- Được khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác theo phương thức khai thác chọn hoặc chặt trắng theo băng, đám rừng;
- Sau khi khai thác, chủ rừng phải thực hiện việc tái sinh hoặc trồng lại rừng trong vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục quản lý, bảo vệ.
b) Về điều kiện, phương thức khai thác gỗ rừng trồng (quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018; được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 91/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 của Chính phủ) như sau:
- Điều kiện: Chủ rừng phải lập phương án khai thác gỗ theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Phương thức khai thác:
+ Khai thác tỉa thưa cây trồng chính thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về các biện pháp lâm sinh.
+ Khai thác chọn cây trồng chính với cường độ mỗi lần không quá 20% trữ lượng trong lô, sau khai thác bảo đảm độ tàn che tối thiểu là 0,6 và phân bố đều trong lô; đối với rừng ngập mặn, ngập phèn mật độ cây trồng chính để lại sau khai thác chọn ít nhất 1.500 cây/ha và phân bố đều trong lô.
+ Khai thác trắng theo băng với chiều rộng băng không quá 30 m; khai thác trắng theo đám với diện tích đám khai thác không quá 3 ha, tổng diện tích khai thác hằng năm không vượt quá 20% tổng diện tích rừng đã đạt tiêu chuẩn phòng hộ của khu rừng.
c) Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hồ sơ khai thác gỗ và thực vật rừng ngoài gỗ loài thực vật rừng thông thường (quy định tại Điều 6 Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT ngày 24/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường) như sau:
- Đối với trường hợp khai thác rừng phòng hộ là rừng trồng của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tự đầu tư hoặc Nhà nước hỗ trợ trên diện tích nhận khoán của các chủ rừng là Ban quản lý rừng: Chủ rừng chủ trì, phối hợp với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư xây dựng phương án khai thác, lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định (khoản 8 Điều 6).
- Sau khi phương án khai thác được phê duyệt, thực hiện trình tự khai thác như sau: (1) Trước khi khai thác: Chủ rừng, hoặc chủ lâm sản, hoặc chủ dự án, hoặc tổ chức cá nhân được giao khai thác gửi 01 bộ hồ sơ gồm bản sao quyết định và phương án khai thác được phê duyệt đến cơ quan Kiểm lâm sở tại để giám sát quá trình thực hiện. (2) Sau khi khai thác: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành khai thác; chủ rừng, chủ lâm sản, chủ dự án hoặc tổ chức, cá nhân được giao khai thác gửi bản chính Bảng kê lâm sản đến cơ quan Kiểm lâm sở tại để theo dõi hoặc xác nhận Bảng kê lâm sản đối với trường hợp chủ lâm sản đề nghị xác nhận (khoản 9 Điều 6).
Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị các hộ dân có nhu cầu khai thác cây trồng tại Làng Mán chủ động liên hệ với đơn vị chủ rừng (Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc) để phối hợp xây dựng phương án khai thác trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, làm cơ sở để tổ chức khai thác.