Liên kết website


Specified argument was out of the range of valid values.

Trao Đổi TT Với Cử Tri

Từ điển trực tuyến

Tra từ:
Từ điển:

Hình ảnh hoạt động

Hộp Mail

Trang chủHoạt động của HĐND

Thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng và vấn đề dự án chậm tiến độ

Đăng ngày: 19/12/2019
​Trong thời gian qua, nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nguồn ngân sách được đầu tư xây dựng, một số công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng phát huy hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, vẫn còn có dự án thực hiện chậm so với tiến độ đề ra, trong đó có nguyên nhân là do vướng các thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng. Ý kiến của đại biểu, giải pháp để khắc phục tình trạng trên trong thời gian tới.

​    Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo Giám đốc Tài nguyên và Môi trường báo cáo cụ thể như sau:
    1. Về thẩm quyền thu hi đất, phê duyệt phương án bồi thường:
    Từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (ngày 01/7/2014), cụ thể là khi UBND tỉnh ban hành Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014, thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ gia đình, cá nhân đã được UBND tỉnh phân cấp và giao UBND cấp huyện (UBND tỉnh chỉ phê duyệt đối với dự án liên huyện và thu hồi đất, phê duyệt bồi thường đối với tổ chức). Sau khi UBND tỉnh ban hành Quyết định 09/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 (mới được thay thế bằng quyết định 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 của UBND tỉnh) thì UBND tỉnh chỉ còn thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường đối với dự án chỉ có tổ chức bị thu hồi đất. Các trường hợp còn lại (kể cả trường hợp có đất tổ chức và hộ gia đình cá nhân trong cùng dự án) thì đều thuộc thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường của UBND cấp huyện.
    IMG_3225.JPG
                 Đại biểu Ngô Thế Ân phát biểu trong phiên thảo luận


 2. Về trình tự, thủ tục thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường: 
Đã được quy định tại điều 68, 69, 70, 71 Luật Đất đai 2013. Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, UBND tỉnh đã ban hành quy định về trình tự, thủ tục, thời gian và việc phối hợp thực hiện giữa các ngành, địa phương, đơn vị có liên quan (quy định tại Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014, Quyết định 09/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 và quyết định 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019): Theo các quyết định trên thì công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng bắt đầu triển khai từ khi có thông báo thu hồi đất đến khi kết thúc là việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư ,gồm các công việc:
     - Thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm;
     - Giao nhiệm vụ bồi thường và thông báo thu hồi đất;
    - Tổ chức điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, thống kê đất đai, tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại;
    - Xác nhận nguồn gốc đất đai, tài sản để bồi thường;
    - Xác định giá đất cụ thể để bồi thường;
    - Lập, thẩm định phương án bồi thường và phương án thu hồi đất;
    - Niêm yết công khai phương án bồi thường;
    - Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường;
    - Công khai phương án bồi thường và chi trả tiền bồi thường;
    - Bàn giao đất, thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất và giải quyết khiếu nại (nếu có).
    Trong 10 nội dung công việc nêu trên, chỉ có việc xác định giá đất cụ thể để bồi thường do Sở Tài nguyên và Môi trường trình Hội đồng thẩm định giá đất của tỉnh thẩm định trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt. Các công việc còn lại đều do Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện, các cơ quan của cấp huyện và UBND cấp xã thực hiện trước khi trình UBND cấp huyện thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường cùng một ngày (Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện đã được thành lập (tách ra từ Trung tâm Phát triển quỹ đất của tỉnh) và trực thuộc UBND cấp huyện theo quyết định số 1573/QĐ-UBND ngày 10/5/2018 của UBND tỉnh)..
    Theo các quy định của UBND tỉnh tại các quyết định nêu trên thì việc kiểm kê đất đai, tài sản, lập và phê duyệt phương án bồi thường chỉ thực hiện một lần cho đến khi kết thúc (không quy định chia ra thực hiện nhiều đợt, nhiều lần).
     3. Về thực trạng và những tồn tại trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng:
   IMG_3298.JPG
           Đại biểu Trần Thị Thu Hằng phát biểu trong phiên thảo luận


    Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các dự án nhìn chung còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu bàn giao mặt bằng cho các chủ đầu tư theo tiến độ quy định. Nhiều dự án thực hiện kéo dài từ thời kỳ thi hành Luật Đất đai 2003 đến nay vẫn chưa hoàn thành (các khu công nghiệp: Thạnh Phú, Ông Kèo, Sông Mây, Hố Nai, Bàu Xéo; cảng Đồng Nai, khu dân cư Miền Đông, huyện Vĩnh Cửu…). Nhiều dự án thực hiện từ khi Luật Đất đai năm 2013 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành, còn dở dang và chưa thể bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư (dự án thoát nước từ KCN Nhơn Trạch 1 đến rạch Bà Ký
    4. Nguyên nhân: Qua theo dõi tình hình thực hiện trên địa bàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường nhận thấy những nguyên nhân sau đây đã làm cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn chậm:
    + Nguyên nhân khách quan:
    - Pháp luật Đất đai thường xuyên thay đổi liên quan trực tiếp đến công tác bồi thường. Nhiều dự án thực hiện phải trải qua nhiều chính sách, quy định khác nhau nên phát sinh việc điều chỉnh, bổ sung và thắc mắc, khiếu nại của người dân.
    - Quy định của pháp luật đất đai về dự án thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất để thực hiện công tác bồi thường (quy định tại Điều 61, Điều 62 Luật Đất đai 2013) còn chưa cụ thể. Người bị thu hồi đất vẫn còn khiếu nại, thắc mắc nhiều về những dự án thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất vì cho rằng nhà nước chỉ thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với dự án vì mục đích quốc phòng, an ninh, sử dụng đất vào mục đích công cộng (không kinh doanh) và các dự án có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Đối với những dự án sản xuất kinh doanh không có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách thì không thuộc diện nhà nước thu hồi đất và nhà đầu tư phải thỏa thuận với người sử dụng đất. Do đó cần có quy định rõ ràng, cụ thể hơn để hạn chế khiếu nại, việc không hợp tác của người dân trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.
    - Việc xác định giá đất cụ thể để bồi thường còn nhiều vấn đề bất cập. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì giá đất cụ thể để bồi thường do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên, phải có giá đất cụ thể thì mới lập được phương án bồi thường, niêm yết công khai, trình thẩm định và phê duyệt nên không thể ban hành được quyết định phê duyệt giá đất cụ thể cùng với thời điểm thu hồi đất, đặc biệt là các dự án UBND cấp huyện thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường nhưng UBND tỉnh phê duyệt giá đất (trên thực tế thời điểm xác định giá đất cụ thể trước thời điểm phê duyệt phương án bồi thường nên phát sinh khiếu nại của người bị thu hồi đất). Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng chưa quy định thời gian hiệu lực của giá đất cụ thể, nhiều dự án đã phê duyệt giá đất cụ thể nhưng sau sáu tháng, một năm hoặc kéo dài hơn nữa mới phê duyệt phương án bồi thường. Đây cũng là lý do dẫn đến khiếu nại của người bị thu hồi đất. Nhiều trường hợp UBND tỉnh phải cho xác định lại giá đất để bồi thường làm kéo dài thời gian thực hiện. Pháp luật đất đai hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về việc giải quyết khiếu nại về giá đất và chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các đơn vị tư vấn tham gia tư vấn xác định giá đất cụ thể.
    Quy định về sự ràng buộc giữa khung giá đất, bảng giá đất và giá đất cụ thể đã ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định giá đất cụ thể để bồi thường (chưa sát với giá đất thị trường). Theo quy định của Luật Đất đai thì giá đất quy định trong bảng giá đất được xây dựng sát với giá thị trường nhưng lại bị không chế bởi khung giá đất và khi giá đất cụ thể trên thị trường biến động tăng hoặc giảm phổ biến 20% so với bản giá đất thì phải điều chỉnh lại bảng giá đất.
    - Về chính sách chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm: Phần lớn diện tích đất thu hồi để thực hiện các dự án là đất nông nghiệp nhưng trên thực tế người bị thu hồi đất không được bồi thường bằng đất (do nhà nước không có quỹ đất nông nghiệp để bồi thường) mà chỉ được bồi thường bằng tiền. Người lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất sẽ chuyển sang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp... Tuy nhiên, việc hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm cho người dân chưa được giải quyết đầy đủ và hiệu quả. Cuộc sống, sinh kế của người dân tại nơi ở mới chưa được khảo sát, đánh giá đầy đủ để có giải pháp hỗ trợ kịp thời. Việc xác định đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp để hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm còn chưa được cụ thể, còn theo cảm tính, gây nhiều khó khăn (nhất là các đối tượng sống tại nội thành, nội thị nhưng lại mua đất nông nghiệp ở các khu vực nông thôn).
       - Về các quyền của người sử dụng đất sau khi đã có thông báo thu hồi đất: Luật Đất đai và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành không quy định hạn chế quyền của người sử dụng đất khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành thông báo thu hồi đất. Trên thực tế xảy ra trường hợp khi đã có thông báo thu hồi đất nhưng vẫn phát sinh nhiều biến động về đất đai (tách thửa, biến động về chủ sử dụng đất), việc này đã gây rất nhiều khó khăn trong công tác kiểm đếm, xác nhận nguồn gốc đất, thay đổi đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, làm kéo dài thời gian thực hiện, phát sinh nhiều khoản chi phí về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
    - Tình trạng người dân không phối hợp thực hiện công tác kiểm kê đất đai, tài sản bị thiệt hại để lập phương án bồi thường, không chấp hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường của cơ quan có thẩm quyền vẫn còn xảy ra. Tình hình khiếu kiện của người bị thu hồi đất, nhất là việc phát sinh mới khiếu kiện đông người đã có phần hạn chế nhưng vẫn còn khá phức tạp, ảnh hưởng lớn đến tiến độ bàn giao mặt bằng để thực hiện các dự án.
    + Nguyên nhân chủ quan:
    - Các địa phương (chủ yếu Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện) thực hiện chưa đúng quy định trình tự thủ tục theo các quy định của UBND tỉnh. Cụ thể là khi thực hiện các dự án, các địa phương tự chia nhỏ việc kiểm kê, xác nhận nguồn gốc đất, lập, phê duyệt và chi trả phương án bồi thường làm nhiều đợt. Đây là vấn đề gây ra nhiếu hệ lụy như cùng một dự án nhưng phê duyệt nhiều lần, áp dụng nhiều giá đất và chính sách bồi thường, tái định cư khác nhau (nguyên nhân phát sinh sự so bì, khiếu kiện) và việc bàn giao mặt bằng (nếu có) sẽ bị manh mún, nhà đầu tư không thể triển khai xây dựng được. Cụ thể: cảng Đồng Nai (phê duyệt 7 đợt và đến nay còn 16 hộ chưa phê duyệt xong, phải bổ sung duyệt giá đất 3 lần); dự án đường 319 Nhơn Trạch (phê duyệt 12 đợt, bổ sung giá đất 2 lần), khu dân cư An Thuận, huyện Long Thành (phê duyệt 8 đợt, đến nay chưa phê duyệt xong)…
    - Giá đất để bồi thường do UBND tỉnh phê duyệt nhưng khi giá đất đã được phê duyệt thì UBND cấp huyện không phê duyệt phương án bồi thường kịp thời (nhiều dự án UBND tỉnh đã duyệt giá đất nhưng sau 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm UBND cấp huyện mới phê duyệt phương án bồi thường), điều này không phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 74 Luật Đất đai 2013 và phải tốn thời gian, tốn chi phí xác định lại giá đất làm chậm trễ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (khu tái định cư Tân Hạnh, KCN Sông Mây, cảng Đồng Nai, đư6ờng 319 nối với đường cao tốc Long Thành-Dầu Giây, khu tái định cư thị trấn Long Thành, khu công nghiệp, công nghệ cao AMATA Long Thành…).
    -Việc xác định giá đất để bồi thường tại một số dự án (nhất là khu vực Long Thành, Nhơn Trạch, Biên Hòa, Trảng Bom..) còn chưa đáp ứng yêu cầu của người dân (mặc dù đã định cao ơn nhiều lần, có nơi cao hơn bảng giá đất của tỉnh hơn 10 lần như KDC An Thuận, Long Thành tăng hơn 11 lần; đường Trương Định, Biên Hòa tăng 6 lần, đường 319 nối dài (Nhơn Trạch) tăng 12 lần
    - Việc đầu tư xây dựng các khu tái định cư của các địa phương còn thiếu và bị động, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế để bố trí cho các hộ bị giải tỏa trắng. Nhiều khu tái định cư chưa có sự kết nội đồng bộ về hạ tầng kỳ thuật và hạ tầng xã hội, khoảng cách xa các dự án bị thu hồi đất nên chưa thu hút được các đối tượng phải bố trí tái định cư.
    - Việc bố trí vốn cho công tác chi trả bồi thường còn chưa kịp thời dẫn tới việc chi trả, giải phóng mặt bằng kéo dài (dự án nút giao Dầu Giây, KCN Thạnh Phú, đường cao tốc Bến Lức - Long Thành…).
    - Tính chủ động, tích cực của một số tổ chức, cơ quan làm nhiệm vụ bồi thường còn chưa cao. Những dự án có sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh thì tiến độ được đẩy nhanh và đáp ứng yêu cầu (cầu An Hảo, nút giao ngã tư Tân Hiệp, các dự án đường điện…) nhưng nếu thiếu sự quyết liệt trong điều hành, chỉ đạo thì tiến độ lại bị chậm.
    Ngoài ra còn các nguyên nhân khác khi xác nhận nguồn gốc đất, kiểm kê (phải kiểm kê bắt buộc do người sử dụng đất không hợp tác, kiểm kê vắng chủ..).
    5. Giải pháp khắc phục tỉnh trạng trên trong thời gian tới:
    Để khắc phục tình trạng trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu, đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo một số nội dung sau:
    - Ban hành Chỉ thị số 10/2019/CT.UBT ngày  ngày 19/9/2019, trong đó yêu cầu UBND các huyện, thành phố Long Khánh và thành phố Biên Hoà và các Sở, ngành liên quan nghiêm túc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để khắc phục tồn tại, hạn chế, nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, ổn định đời sống của người bị thu hồi đất, giảm thiểu khiếu kiện.
    - Về công tác kiểm kê, lập phương án bồi thường: đã tham tham mưu cho UBND tỉnh ký ban hành quyết định 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 quy định việc kiểm kê, lập phương án bồi thường cho các dự án chỉ thực hiện liên tục một lần cho đến khi kết thúc. Đề nghị UBND cấp huyện chỉ đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất và các cơ quan trực thuộc nghiêm túc thực hiện nội dung này.
    - Về giá đất: Sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 5711/STNMT-CCQLĐĐ ngày 27/8/2019 đề xuất và UBND tỉnh đã có văn bản số 10379/UBND-KTNS ngày 09/9/2019 chỉ đạo việc xác định giá cụ thể, trong đó phần cấp và giao UBND cấp huyện căn cứ kế hoạch định giá đất cụ thể, kế hoạch sử dụng đất các dự án, việc bố trí vốn thực hiện để chủ động ký hợp đồng với các đơn vị tư vấn về giá đất và đề xuất giá đất để bồi thường gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Hội đồng thẩm định giá đất trình UBND tỉnh phê duyệt. Việc xác định giá đất chỉ được thực hiện sau khi thực hiện xong công tác kiểm kê, xác nhận nguồn gốc đất của dự án để khắc phục tồn tại hạn chế nêu trên. Tại quyết định 41/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh cũng đã sửa đổi về trình tự xác định giá đất cụ thể cho phù hợp. Do đó, UBND các huyện, thành phố Long Khánh và Biên Hòa cần triển khai thực hiện để việc xác định giá đất để bồi thường phủ hợp thực tế, phù hợp với thời điểm thu hồi đất và hạ chế tối đa việc khiếu kiện.
    - Vế việc bố trí vốn chi trả tiền bồi thường: Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách, UBND cấp huyện căn cứ kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch bố trí vốn đầu tư các dự án để triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện. Đối với các dự án đầu tư không sử dụng vốn nhà nước, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định 09/2018 (thay bằng quyết định 41/2019) quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày dự toán chi phí để tổ chức công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, chủ đầu tư các dự án có trách nhiệm tạm ứng 30% tổng kinh phí tổ chức thực hiện cho Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện để tổ chức thực hiện.
    - Về công tác tái định cư: Việc quy hoạch các khu tái định cư trên địa bàn tỉnh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh phê duyệt, đáp ứng yêu cầu bố trí nhưng việc thực hiện còn vướng mắc về nguồn vốn. Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã đề nghị UBND các huyện khi lập phương án sử dụng đối với quỹ đất công, đất thu hồi từ các nông lâm trường… cần ưu tiên quỹ đất để xây dựng các khu tái định cư nhằm giải nhẹ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng khi xây dựng các khu tái định cư và đề xuất việc bố trí vốn để chủ động xây dựng các khu tái định cư trên địa bàn.
    - Đề nghị UBND các huyện, thành phố Long Khánh và thành phố Biên Hòa quan tâm chỉ đạo công tác định giá đất cụ thể để bồi thường (UBND cấp huyện là thành viên Hội đồng thẩm định giá đất và có thành viên là tổ chuyên viên giúp việc) để việc xác định giá đất phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương hơn.
    - Về xử lý các vấn đề tồn tại, vướng mắc có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư các dự án cụ thể: hàng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo, xử lý và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các địa phương (trung bình mỗi năm tham mưu xử lý khoảng 250 vụ việc). Đây là những vấn đề cụ thể đã được pháp luật đất đai quy định nhưng vì sợ trách nhiệm nên các địa phương có văn bản xin ý kiến, kiến nghị UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn, trả lời, tham mưu và đề xuất xử lý… làm chậm tiến độ. Do vậy đề nghị UBND các huyện, thành phố Long Khánh và thành phố Biên Hòa chỉ đạo Phòng Tài nguyên và môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện và các cơ quan liên quan nâng cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm để trực tiếp, tham mưu cho UBND cấp huyện để kịp thời giải quyết các vụ việc phát sinh

Nguyễn Thị Oanh